|
Nhóm nghiên cứu
Nguyễn Bạch Đằng; ĐT: 0933.033.790; Email: ngbdang@hcmuaf.edu.vn
Phạm Thị Hồng Nhung; ĐT:0971.680.980; Email: pthnhung@hcmuaf.edu.vn
Đề tài "Đảm bảo nghề cá: Sự tương tác giữa Nhà nước và Cộng đồng trong bối cảnh suy giảm tài nguyên nhanh chóng"
Những quy định của nhà nước về thủy sản là rất cần thiết trong việc thúc đẩy sự phát triển nông thôn và bảo vệ tài nguyên thủy sản. Tuy nhiên, nghiên cứu của Đằng (2008) về chính sách thủy sản đã chỉ ra rằng sự thất bại của chính sách này đã góp phần vào sự không ổn định trong sinh kế của ngư dân và sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên. Theo nghiên cứu này, sự suy giảm tài nguyên thủy sản không chỉ bởi việc khai thác quá mức trong dài hạn mà còn bởi sự kiện diễn ra một cách nhanh chóng và bất ngờ. Sự cố tràn dầu là một trong những sự kiện dẫn đến sự suy giảm tài nguyên thủy sản một cách nhanh chóng. Rủi ro của những sự cố tràn dầu và những tác hại về môi trường do sự cố tràn dầu gây ra là mối quan tâm hàng đầu của cả người dân và nhà nước.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm lý giải sự khác biệt giữa quy định của nhà nước và việc thi hành chúng trong thực tế ứng cứu sự cố tràn dầu thông qua việc đánh giá những tác động của sự cố tràn dầu lên sinh kế của người dân và tìm hiểu những cách thức mà người dân và nhà nước sử dụng để ứng cứu những sự cố tràn dầu. Để đạt được mục tiêu này, đề tài đã tham khảo các tài liệu liên quan và thu thập tài liệu từ các cơ quan hữu quan. Phương pháp thu thập số liệu bao gồm điều tra mẫu 50 hộ kết hợp với các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) như: thảo luận nhóm, sử các bảng câu hỏi chuẩn bị trước, hoặc các câu hỏi mở.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cố tràn dầu là một trong những vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam. Những thiệt hại do sự cố tràn dầu thường gồm cả những thiệt hại về cả kinh tế và xã hội. Đặc biệt, người nuôi trồng thủy sản là những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự cố tràn dầu. Hậu quả của sự cố tràn dầu là lớn, được thể hiện ngay và rõ ràng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Những lý do gây ra sự thất bại của chính sách thủy sản có thể được sử dụng để giải thích một phần cho sự thất bại của chính sách về ứng phó sự cố tràn dầu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy những lý do dẫn đến sự thất bại của kế hoạch ứng cứu sự cố tràn dầu bao gồm thiếu kế hoạch chi tiết của cấp cơ sở, sự yếu kém trong việc kiểm tra công nghệ, quy trình sản xuất, tổ chức tập huấn và sự trao đổi thông tin giữa các bên liên quan; sự không phù hợp trong những quy định liên quan đến việc trợ giúp và vai trò của bên nước ngoài, trách nhiệm của các bên có liên quan; sự yếu kém trong việc hợp tác giữa các cấp chính quyền có liên quan và giữa nhà nước với cộng đồng; sự thụ động của cấp cơ sở trong hoạt động ứng cứu sự cố tràn dầu. Đặc biệt, hậu quả do sự cố tràn dầu rất lớn. Vì vậy, việc xác định trách nhiệm và khoản tiền bồi thường rất quan trọng trong việc khắc phục những thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, hoạt động này lại là một trong những thử thách mà nhà nước đã không thể thực hiện tốt.
Ứng cứu sự cố tràn dầu là vấn đề khó khăn và phức tạp, yêu cầu sự đóng góp và hợp tác tốt giữa các cấp có thẩm quyền và mối liên hệ tốt giữa nhà nước và cộng đồng. Tuy nhiên, sự yếu kém trong những quy định của pháp luật, nguồn nhân lực và phương tiện cho hoạt động ứng cứu thật sự là những thách thức cho quốc gia trong hoạt động ứng cứu sự cố tràn dầu.
Từ khóa: Thủy sản, sự cố tràn dầu, sinh kế, và suy giảm tài nguyên.
|